Tăng thẩm quyền chống buôn lậu cho Hải quan là cần thiết
 (2)(1).jpg)
ĐBQH Phan Văn Quý: Cần trang bị phương tiện hỗ trợ cần thiết đảm bảo cho cán bộ Hải quan thực hiện quyền truy đuổi.
Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi) đã tăng thẩm quyền chống buôn lậu cho ngành Hải quan theo hướng cho phép cán bộ công chức Hải quan được thẩm quyền truy đuổi liên tục ra khỏi địa bàn hoạt động của Hải quan. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?
Tôi thấy quy định này là cần thiết vì sẽ giúp cán bộ Hải quan ngăn chặn kịp thời các trường hợp buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, góp phần tăng cường hiệu quả cho công tác phòng, chống buôn lậu trong tình hình mới.
Tuy nhiên, cần quy định rõ mức độ truy đuổi của cán bộ Hải quan được giới hạn đến đâu để tránh tình trạng chồng chéo với các lực lượng chức năng liên quan. Ngoài ra, công tác đào tạo và trang bị các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ và phương tiện hỗ trợ cần thiết phải được thực hiện tốt để đảm bảo cho cán bộ Hải quan thực hiện quyền truy đuổi này.
Tại phiên thảo luận vừa qua của Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng cần làm rõ hơn thẩm quyền tuần tra, chống buôn lậu trên biển của lực lượng Hải quan. Nhận định của ông ra sao?
Tình hình Biển Đông hiện nay đang rất phức tạp, do vậy, việc quy định lực lượng Hải quan thực hiện công tác tuần tra trên biển là cần thiết. Tuy nhiên, vì có nhiều lực lượng cùng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trên biển như Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng… nên cần phải phân định rõ thẩm quyền tuần tra, chống buôn lậu trên biển của lực lượng Hải quan với các lực lượng chức năng khác trên biển để đảm bảo cho việc phối hợp công việc giữa các lực lượng liên quan được đồng bộ và hiệu quả, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ lợi ích, chủ quyền của quốc gia.
Dự thảo Luật quy định: Việc kiểm tra sau thông quan được tiến hành tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở người khai hải quan trong thời hạn là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Ông cho biết ý kiến của mình về quy định này?
Theo tôi, quy định này áp dụng sẽ gặp phải nhiều bất cập, vì: Trong thời gian 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan, các khoản thuế doanh nghiệp đã nộp và công tác hạch toán kế toán, kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã hoàn thành theo từng năm là không thể thay đổi được.
Không những thế, trong khoảng thời gian này, bản thân doanh nghiệp có thể có những thay đổi trong như: đổi tên, thay đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, thay đổi địa chỉ trụ sở, thay đổi nhân sự phụ trách thủ tục hải quan… Điều này sẽ gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và cơ quan kiểm tra. Chưa kể trường hợp nếu doanh nghiệp giải thể, phá sản trong khoảng thời gian này thì việc kiểm tra sau thông quan của cơ quan Hải quan là rất khó.
Do vậy, tôi cho rằng nên rút ngắn thời hạn kiểm tra sau thông quan là 3 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan sẽ hợp lý hơn.
Ngành Hải quan vừa hoàn thành “phủ sóng” áp dụng Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS tại tất cả các Cục Hải quan. Ông đánh giá như thế nào về nỗ lực cải cách, hiện đại hóa nhằm tạo thuận lợi tối đa cho DN trong thời gian gần đây của ngành Hải quan?
Nếu so sánh thủ tục hải quan đang áp dụng hiện nay với thủ tục hải quan trước đây thì có thể thấy rõ ngành Hải quan đã có những nỗ lực và tiến bộ nhất định trong việc thay đổi phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ truyền thống sang bán điện tử.
Việc áp dụng Hệ thống thông quan tự động và một cửa quốc gia sẽ là một bước tiến quan trọng, góp phần thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử.
Điều này là hết sức cần thiết vì: Phù hợp với xu thế chung hiện nay (hiện nay, rất nhiều thủ tục hành chính đã được thực hiện theo cơ chế một cửa và thông qua mạng thông tin tự động. Đơn cử như thủ tục kê khai nộp báo cáo thuế, đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thông tin giao dịch bảo đảm…). Đồng thời, đảm bảo tính chuyên nghiệp, tập trung trong thủ tục hải quan, thuận tiện cho cả doanh nghiệp và cơ quan Hải quan; tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả; Đáp ứng yêu cầu hội nhập và cam kết quốc tế; và góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, để Hệ thống thông quan tự động và một cửa quốc gia được áp dụng đồng bộ, thống nhất thì ngành Hải quan phải làm tốt các công tác liên quan như: Nâng cấp trang thiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ cho công tác nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ hải quan; đào tạo, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi việc áp dụng cho cán bộ hải quan và doanh nghiệp.
Theo Báo Hải Quan







