Báo Tiền Phong: Chuyện về chiếc “Zil ba cầu” của một “Tuấn mã Trường Sơn”
29/08/2025
Trong bảo tàng ngành Hậu cần quân đội có một chiếc “Zil ba cầu” được “độ” lại theo một cách vô cùng đặc biệt: mui xe có mái che bằng tre, nứa ken dày để đính lá ngụy trang và chống mảnh bom, sườn xe ốp bằng ke sắt thùng đạn, đầu dầm ốp mảnh pháo sáng, còn cần số là một thanh gỗ để chống nhảy số… Chiếc xe có số hiệu DD4432-TS1, là “người bạn thân thương” của anh hùng Phan Văn Quý.
Chiếc xe có số hiệu DD4432-TS1, là “người bạn thân thương” của anh hùng LLVTND Phan Văn Quý
Yêu xe như con
Ông Phan Văn Quý sinh năm 1954, nhập ngũ cuối năm 1971, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Vào Trường Sơn, ông trở thành lính lái xe của Tiểu đoàn ô tô 76, Trung đoàn 11, Sư đoàn 571, Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Kể từ khi tiếp nhận chiếc Zil 157, một loại xe ba cầu do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam, tân binh Phan Văn Quý đã coi nó như máu thịt của mình. Sau này, người và xe nhiều lần đối mặt với hiểm nguy, thì suy nghĩ hiện hữu rõ ràng nhất trong đầu ông vẫn là: “Lòng tôi nhức nhối/ Để xe cháy ư/ Người bạn thân thương/ Phải cùng nhau sống”.
Chiếc xe mang số hiệu DD4432-TS1 đã cùng ông bền bỉ đi qua “bom nổ, đạn rơi, mưa dầm, gió dãi” từ ngày đầu đếnnăm 1976, chuyên chở các đơn vị bộ binh, vũ khí và lương thực ra mặt trận và chở thương binh từ mặt trận trở về hậu phương, qua những trọng điểm bị địch đánh phá ác liệt. Ngày ấy, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, gọi những người lái xe như ông Quý là “Tuấn mã Trường Sơn”, cách gọi vừa gợi khí phách, vừa nói hộ tình nghĩa sâu nặng giữa người và xe. Chả thế, mà trong số rất nhiều bài thơ làm trên đường ra trận của anh hùng Phan Văn Quý có hẳn một góc nhỏ dành riêng cho “Zil ba cầu”. Chiếc xe đối với ông vừa giống như bạn, như đồng đội, lại cũng như một chứng nhân yên lặng, để người lính lái xe thoải mái bộc bạch nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người thương và cả nỗi mong ngóng về một tương lai độc lập tự do: “Rừng già im vắng nắng chang chang/ Chiếu trải gầm xe nhớ về làng/ Bóng ai thấp thoáng in lối rẽ/ Sóng dậy trong lòng cứ mênh mang”…
Con đường vận chuyển đèo dốc uốn lượn, bên núi bên vực, mỗi chuyến xe qua là một lần đi giữa lằn ranh sinh tử. Để giữ an toàn cho “người bạn đường”, ông nghĩ ra đủ cách: trát đất đỏ lên xe để ngụy trang ở những trọng điểm cao, không có cây cối, ốp ke sắt thùng đạn và mảnh pháo sáng vào đầu dầm, chế cần số từ gỗ để xe không bị nhảy số, buộc dây lò xo vào cửa hậu giữ hàng hóa không rơi, ốp gỗ vào thành thùng để tránh trầy xước, thậm chí phủ cây rừng lên nóc xe vừa ngụy trang vừa che mảnh bom...
Đi đến đâu, nếu thấy thiết bị, phụ tùng của xe bị đánh cháy , ông cần mẫn nhặt lại như nhặt những “của để dành” cho hành trình kế tiếp. Về đến điểm dừng, ông phân loại chúng thành năm hộp/ống nhỏ, xếp ngăn nắp ngay dưới ghế phụ như một tủ đồ nghề dã chiến. Không phụ thuộc vào đội sửa chữa, ông tự học kỹ năng máy móc, để có thể chủ động khắc phục sự cố ngay trên đường hành quân. Trước mỗi chuyến đi, người tân binh quê Yên Thành, Nghệ An đều kiểm tra tỉ mỉ tình trạng kỹ thuật, hệ số an toàn; rà soát thiết bị, phụ tùng theo xe và vật tư dự phòng.
Nhờ sự chăm chút ấy, trong gần ba năm, chiếc Zil 157 đã chạy hơn 65.000 km an toàn, tiết kiệm gần 7.000 lít xăng. Phan Văn Quý trở thành lái xe trẻ tuổi dẫn đầu phong trào “yêu xe như con, quý xăng như máu” của Sư đoàn 571, để rồi khi mới 23 tuổi, ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, là người trẻ nhất của Bộ đội Trường Sơn được vinh danh.
Chiếc Zil 157 của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Quý được trưng bày tại Bảo tàng Hậu cần QĐND Việt Nam
Với nhà thơ của “Tiểu đội xe không kính”
Là lính lái xe, anh hùng Phan Văn Quý có một sự yêu quý đặc biệt với nhà thơ Phạm Tiến Duật, tác giả của “Tiểu đội xe không kính”. Ngày còn là lính lái xe, ông đã thuộc lòng “Tiếng bom ở Seng Phan” của tác giả “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”. Mỗi lầnlên xe, bài thơ lại vang lên trong đầu ông như nhịp thở của những đoàn xe ra trận: “Tôi đứng giữa Seng Phan/ Cao hơn tiếng bom là khe đá tiếng đàn/ Tiếng mìn công binh phá đá/ Tiếng điếu cày rít lên thong thả/ Tiếng oai nghiêm xe rú máy trên đường/ Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ”!
Có lần, khi bất ngờ gặp tác giả, ông đã mạnh dạn bày tỏ niềm yêu thích và hỏi nhà thơ viết tác phẩm ấy ở đâu. Nhà thơ Phạm Tiến Duật lấy ngay câu “Tôi đứng giữa Seng Phan” làm câu trả lời.
Trong những câu chuyện về sau của lính Trường Sơn, được biết, nhà thơ Phạm Tiến Duật viết “Tiểu đội xe không kính” năm 1969, lấy cảm hứng trực tiếp từ những chiếc xe của Trung đoàn xe 225 thuộc Tổng cục Hậu cần. Đây là Trung đoàn làm nhiệm vụ vận tải từ Hà Nội vào nam Khu 4 cũ. Hầu như toàn bộ xe của đơn vị này đều bị găm đầy mảnh bom, mảnh đạn và hiếm có chiếc xe nào giữ được tấm kính chắn gió.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Quý
Tình cảm đặc biệt ấy theo ông Quý đến tận bây giờ. Khi trở thành doanh nhân thành đạt, ông vẫn tìm cách lưu giữ dấu ấn của nhà thơ trong không gian riêng của mình. Ở đại bản doanh tại Hà Nội, ông dành riêng một phòng sưu tầm tranh tượng về Trường Sơn. Ở đây, có sự hiện diện của nhà thơ Phạm Tiến Duật, như một biểu tượng tinh thần. Dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của bộ đội Trường Sơn, ông và đơn vị đã chọn tạc hai pho tượng, một dành cho Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, vị Tư lệnh gắn bó với con đường huyền thoại, và một cho “thi sĩ Trường Sơn” Phạm Tiến Duật. Với ông Quý, hai con người ấy là hai gương mặt bất tử của Trường Sơn: một đại diện cho sự chỉ đạo, thao lược trong quân sự, một lưu giữ tâm hồn và tiếng nói của những người lính.