Bài phát biểu về Bộ luật Lao động (sửa đổi)
Kính thưa Đoàn Chủ tịch
Kính thưa Quốc hội
Sau khi nghiên cứu, phần lớn tôi nhất trí với nội dung của Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi và thẩm tra của Ủy ban về các vấn đề xã hội. Tôi xin góp ý thêm 3 nội dung sau đây:
I. Về tiền lương và bù lạm phát cho người lao động:
Đi đôi với tiền lương, người sử dụng lao động cần chú trọng xây dựng khoản phụ cấp kèm theo để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi lạm phát tăng cao.
Theo tôi, nên đưa thêm quy định về phụ cấp bù lạm phát vào trong Luật để phù hợp với tình hình thực tế và bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Bởi vì 2 lý do sau:
1. Hiện nay, để chia sẻ với người lao động trong thời kỳ lạm phát gia tăng của nền kinh tế, một số doanh nghiệp đã tiến hành điều chỉnh lương không định kỳ và nhiều hơn một lần trong một năm. Tuy nhiên, tăng lương để ứng phó với lạm phát không phải là giải pháp tốt nhất, mà để ứng phó với lạm phát thì phải có phụ cấp bù lạm phát để làm cơ sở điều chỉnh.
2. Phụ cấp bù lạm phát có thể tính bằng một tỷ lệ % của tổng tiền lương thực nhận của người lao động trong năm liền trước. Như vậy, không những đảm bảo được quyền lợi cho người lao động mà bản thân doanh nghiệp cũng không phải lo điều chỉnh tiền lương bất thường nữa.
II. Về Giải quyết tranh chấp lao động:
Theo Điều 162 Bộ luật Lao động năm 1994, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ở cấp huyện gồm Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoặc Hoà giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đối với những nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở.
Tuy nhiên, Dự thảo luật bỏ quy định về Hội đồng hòa giải lao động cơ sở.
Tôi đề nghị giữ nguyên quy định về Hội đồng hòa giải lao động cơ sở như hiện nay, bởi 3 lý do sau:
1. Phù hợp với nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên thông qua thương lượng, hòa giải.
2. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở được thành lập trên cơ sở sự thỏa thuận của người lao động và người sử dụng lao động với số đại diện của mỗi bên tham gia là ngang nhau, điều này giúp cho việc giải quyết tranh chấp lao động được nhanh gọn, không tốn kém chi phí và thời gian của cả hai bên.
3. Phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về giải quyết tranh chấp lao động, đó là: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
III. Về một số điều khoản của dự thảo luật, tôi xin góp ý 3 khoản mục sau:
1. Khoản 1 Điều 22 của Dự thảo quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin khi tiến hành giao kết Hợp đồng lao động, theo đó: Người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động về các vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng lao động mà người lao động muốn biết.
Theo tôi, nên bỏ cụm từ “mà người lao động muốn biết” bởi vì có rất nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng lao động mà không phải người lao động nào cũng có thể biết và yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin cho mình.
2. Điều 30 của Dự thảo quy định thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc. Tuy nhiên, ở khoản 1 và khoản 2 của điều này lại căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động.
Quy định như vậy là mâu thuẫn.
Tôi đề nghị bỏ cụm từ “căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc” nêu ở đoạn đầu của Điều này.
3. Khoản 1 Điều 38 của Dự thảo quy định “Tiền lương của người lao động làm việc không trọn thời gian do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn tiền lương tính theo giờ của người lao động làm trọn thời gian cho cùng người sử dụng lao động có cùng trình độ làm cùng công việc hoặc công việc tương tự” .
Theo tôi, nên bỏ đoạn “nhưng không được thấp hơn tiền lương tính theo giờ của người lao động làm trọn thời gian cho cùng người sử dụng lao động có cùng trình độ làm cùng công việc hoặc công việc tương tự”
Chỉ nên quy định là “Tiền lương của người lao động làm việc không trọn thời gian do hai bên thỏa thuận”. Bởi 2 lý do:
- Phần lớn các doanh nghiệp đều có quy định về bảo mật về tiền lương, bản thân người lao động không biết được thông tin về tiền lương của nhau.
- Chúng ta đã có quy định về tiền lương tối thiểu để làm cơ sở cho hai bên thỏa thuận khi ký kết Hợp đồng lao động rồi.
Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Đoàn chủ tịch, cảm ơn Quốc hội.
ĐBH.Phan Văn Quý







